* Tổng quan thị trường thức ăn chăn nuôi và dự báo
Tháng 4/2026, thị trường thức ăn chăn nuôi trong nước chịu áp lực nặng nề từ căng thẳng tại eo biển Hormuz, đẩy chi phí vận chuyển và năng lượng lên cao. Trên thị trường thế giới, khủng hoảng logistics trực tiếp kích động làn sóng tăng giá mạnh mẽ đối với các nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi như bắp, đậu tương và lúa mì tại các cường quốc xuất khẩu hàng đầu thế giới. Dự báo trong thời gian tới, giá thức ăn chăn nuôi vẫn neo ở mức cao do độ trễ của chi phí logistics và áp lực tỷ giá chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Thị trường thế giới
- Diễn biến giá Trong tháng 4/2026, căng thẳng leo thang tại Trung Đông cùng tình trạng tắc nghẽn tại eo biển Hormuz đã đẩy giá năng lượng và lạm phát toàn cầu tăng phi mã. Khủng hoảng logistics trực tiếp kích động làn sóng tăng giá mạnh mẽ đối với các nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi như bắp, đậu tương và lúa mì tại các cường quốc xuất khẩu hàng đầu thế giới. Giá lúa mì thế giới ghi nhận xu hướng tăng tại hầu hết các quốc gia xuất khẩu chủ chốt, ngoại trừ khu vực EU. Đáng chú ý, Argentina dẫn đầu đà tăng với mức 11,1% so với tháng trước, đẩy giá lên ngưỡng 230 USD/tấn. Mặc dù con số này vẫn thấp hơn 7,3% so với cùng kỳ năm trước, Argentina vẫn tiếp tục khẳng định vị thế là nhà cung cấp có sức cạnh tranh lớn nhất toàn cầu.
Theo sát là Hoa Kỳ và Australia với mức tăng lần lượt 1,5% và 3,1% so với tháng trước, đẩy giá lúa mì đạt ngưỡng 273 USD/tấn và 270 USD/tấn. So với cùng kỳ năm trước, hai quốc gia này cũng ghi nhận mức tăng trưởng khả quan, tương ứng là 8,8% và 4,2%. Ngược lại, giá lúa mì tại EU giảm nhẹ 0,8% xuống còn 238 USD/tấn, cho thấy sự trái chiều so với mặt bằng chung của các đối thủ lớn trên thị trường quốc tế. Thị trường bắp ghi nhận sự phân hóa sắc nét giữa các vùng sản xuất. Tại Argentina và Ukraine, giá bắp tăng nhẹ khoảng 1% so với tháng trước, lần lượt đạt mức 209 USD/tấn và 227 USD/tấn; tuy nhiên, mức giá này vẫn thấp hơn từ 3,8% đến 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, giá bắp tại Mỹ và Brazil sụt giảm, dao động trong khoảng 217–225 USD/tấn.
Sự suy yếu này chủ yếu do tác động từ rào cản vận tải và tình trạng khan hiếm nguồn cung cục bộ theo mùa, tạo nên một bức tranh cung - cầu không đồng nhất. Trong khi đó, giá đậu tương thế giới giảm nhẹ so với tháng trước, giao dịch ở mức trung bình 11,6 USD/bushel. Đà giảm này được thúc đẩy bởi triển vọng nguồn cung cải thiện và kỳ vọng chấm dứt xung đột Mỹ - Iran làm giảm nhu cầu nhiên liệu sinh học. Dù vậy, căng thẳng tại eo biển Hormuz vẫn là yếu tố kìm hãm đà giảm giá.
- Diễn biến cung cầu
+ Đậu tương Theo báo cáo tháng 4/2026 của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng đậu tương toàn cầu niên vụ 2025/26 dự báo đạt 427,8 triệu tấn, tăng 0,6 triệu tấn so với niên vụ trước nhưng giảm 0,4 triệu tấn so với dự báo tháng 3/2026. USDA dự báo sản lượng đậu tương Brazil đạt kỷ lục 180 triệu tấn, đồng thời nâng dự báo xuất khẩu và chế biến lần lượt lên mức cao nhất lịch sử là 115 triệu tấn và 61,5 triệu tấn. Nguồn cung dồi dào từ Brazil tạo áp lực cạnh tranh trực tiếp lên đậu tương Mỹ trong niên vụ 2025/26.
Sản lượng của Hoa Kỳ vẫn duy trì mức dự báo 116 triệu tấn do diện tích gieo trồng vụ mới không thay đổi so với báo cáo trước. Lượng dự trữ đậu tương toàn cầu niên vụ 2025/26 dự báo giảm so với niên vụ trước, đạt 124,8 triệu tấn, giảm 0,5 triệu tấn so với dự báo tháng trước nhưng tăng 2,5 triệu tấn so với niên vụ 2024/2025. Trong đó, dự trữ tại Hoa Kỳ và Brazil dự kiến tăng lần lượt là 10 triệu bushel và 2 triệu tấn.
+ Bắp
Theo dự báo của USDA sản lượng bắp toàn cầu niên vụ 2025/26 đạt 1.301,07 triệu tấn, tăng 5,7% tương đương tăng 69,69 triệu tấn so với niên vụ 2024/25 và tăng 3,63 triệu tấn so với dự báo tháng 3/2026 do sản lượng tăng tại Ukraine và Brazil. Cụ thể, sản lượng bắp tại Ukraine niên vụ 2025/26 dự báo đạt mức kỷ lục 30,7 triệu tấn, tăng 3,9 triệu tấn so với niên vụ trước và ổn định so với dự báo trước đó. Sản lượng bắp tại Ấn Độ tăng 3,2 triệu tấn so với dự báo tháng trước và tăng 3,92 triệu tấn so với niên vụ 2024/25.
Sản lượng bắp của Trung Quốc và Mỹ niên vụ 2025/26 dự báo lần lượt đạt mức kỷ lục 301,2 triệu tấn và 432,3 triệu tấn. Lượng bắp tồn kho cuối kỳ niên vụ 2025/26 dự kiến đạt 294,805 triệu tấn, giảm 1,48 triệu tấn, so với niên vụ 2024/25 nhưng tăng 2,06 triệu tấn so với dự báo trước đó. Tổng lượng tiêu thụ bắp của Mỹ niên vụ 2025/26 dự kiến đạt 334 triệu tấn, tăng 22,9 triệu tấn so với niên vụ 2024/25.
+ Lúa mì
Theo báo cáo tháng 4/2026 của USDA, nguồn cung lúa mì toàn cầu niên vụ 2025/26 dự báo đạt 1.103,2 triệu tấn, tăng 1,5 triệu tấn so với dự báo trước đó và tăng 24 triệu tấn so với niên vụ 2024/25, chủ yếu nhờ sản lượng tăng tại Ukraine và Kazakhstan. Sản lượng lúa mì sản xuất niên vụ 2025/26 ước đạt kỷ lục 844,152 triệu tấn, tăng 44,8 triệu tấn so với niên vụ 2024/25 và tăng 2 triệu tấn so với dự báo trước đó. Sản lượng tăng nhờ vụ thu hoạch bội thu tại Achentina dự kiến đạt kỷ lục 27,92 triệu tấn, tăng 9,4 triệu tấn so với niên vụ trước và tăng 0,12 triệu tấn so với dự báo tháng trước. Dự báo tồn kho lúa mì toàn cầu cuối niên vụ 2025/26 đạt mức 283,12 triệu tấn, tăng 24,03 triệu tấn so với niên vụ trước và tăng 6,16 triệu tấn so với dự báo trước đó. Do tồn kho của Ấn Độ tăng lên mức 17,19 triệu tấn,10,2 triệu tấn so với niên vụ trước và tăng 4,82 triệu tấn so với dự báo trước đó.
Tiêu thụ lúa mì toàn cầu niên vụ 2025/26 dự báo đạt 820,122 triệu tấn, tăng 10,24 triệu tấn, so với niên vụ 2024/25 nhưng giảm 4,67 triệu tấn so với dự báo trước đó, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh tại Ấn Độ giảm 1,266 triệu tấn so với niên vụ trước và giảm 4,8 triệu tấn so với dự báo trước, đạt 108,96 triệu tấn.
Thị trường trong nước
- Diễn biến giá Tháng 4/2026, thị trường thức ăn chăn nuôi trong nước chịu áp lực nặng nề từ căng thẳng tại eo biển Hormuz, đẩy chi phí vận chuyển và năng lượng lên cao. Do phụ thuộc 70% vào nguyên liệu nhập khẩu, các doanh nghiệp đã đồng loạt thực hiện đợt tăng giá thứ 4 kể từ đầu năm với mức tăng phổ biến 200 – 400 đồng/kg. Trong đó, thức ăn cho heo tăng mạnh nhất từ 400 - 500 đ/kg, thiết lập mặt bằng giá mới 12.400 – 15.400 đ/kg, tăng 2.400 đ/kg so với cùng kỳ 2025.
Thức ăn gia cầm cũng tăng 200 - 400 đ/kg, dao động ở mức 11.200 - 13.700 đ/kg. Phân khúc thủy sản cũng không ngoại lệ khi thức ăn tôm chạm ngưỡng kỷ lục 43.000 đ/kg, trong khi giá thức ăn cá tra và cá nước ngọt tăng lên mức 13.500 – 15.500 đồng/kg. Đặc biệt, biến động mạnh nhất là nhóm cám đậm đặc với mức tăng 800 đồng/kg so với tháng trước, đẩy giá lên ngưỡng 18.500 – 22.500 đồng/kg do sự khan hiếm và cạnh tranh gay gắt nguồn đạm nhập khẩu trên toàn cầu.
Ngành chăn nuôi đang đối mặt với hiệu ứng gọng kìm khốc liệt, trong khi chi phí thức ăn đã tăng 10–14% so với đầu năm và chiếm tới 80% giá thành sản xuất, thì giá sản phẩm đầu ra đặc biệt là gia cầm lại sụt giảm do cung vượt cầu. Sự mất cân đối này khiến các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ lỗ nặng, dẫn đến tâm lý e dè và ngưng trệ việc tái đàn trên diện rộng. Dự báo trong thời gian tới, giá thức ăn chăn nuôi vẫn neo ở mức cao do độ trễ của chi phí logistics và áp lực tỷ giá chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Dù nguồn cung ngũ cốc từ Nam Mỹ bắt đầu vào vụ thu hoạch có thể giúp bình ổn giá bắp và lúa mì, nhưng nhóm đạm nhập khẩu như bột cá, cám đậm đặc dự kiến sẽ tiếp tục biến động mạnh do sự cạnh tranh gay gắt từ thị trường Trung Quốc. Biên lợi nhuận của người chăn nuôi tiếp tục bị thu hẹp bởi nghịch lý giá đầu vào tăng nhanh hơn giá thịt và trứng. Trước tình hình này, người dân cần thận trọng trong việc tái đàn và chủ động tận dụng nguồn nguyên liệu nội địa để tối ưu hóa chi phí sản xuất.
- Hoạt động thương mại
+ Xuất khẩu Trong nửa đầu tháng 4/2026, kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu (NL) của Việt Nam đạt 91,8 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến 15/4/2026 kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc và NL đạt gần 511,5 triệu USD. Trước đó, theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan trong tháng 3/2026 xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và NL đạt 165,8 triệu USD, tăng 66,8% so với tháng trước và tăng 50,7% so với tháng 3/2025. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và NL đạt 419,7 triệu USD, tăng 57,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Về thị trường, thức ăn gia súc và NL được xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 3 tháng đầu năm 2026, chiếm 49,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 206,3 triệu USD, tăng 76,8% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó riêng tháng 3/2026 đạt gần 87 triệu USD, tăng 106,4% so với tháng 2/2026 và tăng 53,2% so với tháng 3/2025.
+ Nhập khẩu Nửa đầu tháng 4/2026, nhập khẩu thức ăn gia súc và NL đạt 156,8 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến 15/4/2026 nhập khẩu thức ăn gia súc và NL đạt 1.165,9 triệu USD. Trước đó, trong tháng 3/2026 nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 374 triệu USD, tăng 44,9% về kim ngạch so với tháng trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1.009,2 triệu USD, giảm 13,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025.
Về chủng loại, nhập khẩu bắp các loại trong 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.628,4 triệu tấn, kim ngạch đạt 898,1 triệu USD, tăng 79,9% về lượng và tăng 75,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, nhập khẩu lúa mỳ các loại trong 3 tháng đầu năm ước đạt 2.849,4 triệu tấn, kim ngạch đạt 734,1 triệu USD, tăng 75% về lượng và tăng 70,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu đậu tương các loại trong 3 tháng đầu năm ước đạt 919,9 triệu tấn, kim ngạch đạt 437,6 triệu USD, tăng 59,6% về lượng và tăng 67,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025.
Về thị trường, trong 3 tháng đầu năm 2026, thức ăn gia súc và NL được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Hoa Kỳ, chiếm 23,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 239,87 triệu USD, tăng 42,34% so với cùng kỳ năm 2025. Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Achentina chiếm tỷ trọng 20,2%, đạt trên 203,4 triệu USD, giảm mạnh 58,96% so với cùng kỳ năm 2025. Tiếp đến thị trường Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm 2026 tăng 35,2% so với cùng kỳ năm 2025, đạt 104,6 triệu USD, chiếm 10,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. (Nguồn: Ban Biên tập Bản tin Thị trường tổng hợp)