THÔNG TIN NÔNG SẢN
Thứ ba, 19/5/2026

Thị trường trái cây

+ Tình hình sản xuất Trong quý I/2026, sản lượng nhiều loại trái cây chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước nhờ thời tiết thuận lợi cùng việc áp dụng hiệu quả các biện pháp khoa học kỹ thuật, tăng cường đầu tư chăm sóc.

Cụ thể, sầu riêng ước đạt 212,9 nghìn tấn (tăng 15,0%); mít ước đạt 199,9 nghìn tấn (tăng 12,8%); bưởi ước đạt 175,5 nghìn tấn (tăng 5,8%); chuối ước đạt 835,7 nghìn tấn (tăng 5,3%); thanh long ước đạt 341,3 nghìn tấn (tăng 3,1%); xoài ước đạt 207,6 nghìn tấn (tăng 1,8%); dừa đạt 593,8 nghìn tấn (tăng 6,0%); cam ước đạt 333,2 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản lượng và tăng trưởng sản lượng một số loại trái cây chủ lực của Việt Nam trong quý I/2026 (Số liệu tổng hợp từ Cục Thống kê)

+ Diễn biến giá Trong quý I/2026, thị trường rau củ trong nước có nhiều biến động do rơi vào dịp lễ Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng rau củ tăng trước và sau Tết. Tuy nhiên, mặt bằng giá nhìn chung không biến động quá lớn so với quy luật hàng năm, nhờ nguồn cung dồi dào, không xảy ra khan hiếm và công tác bình ổn giá từ các địa phương và hệ thống phân phối. Bước sang tháng 3/2026, thị trường trái cây nhìn chung ít biến động hơn, giá một số loại trái cây giảm nhẹ. Riêng sầu riêng vẫn duy trì mức giá cao do nhu cầu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc ở mức lớn.

Cụ thể: Tại ĐBSCL, giá bưởi da xanh ở mức 34.000–36.000 đ/kg, giảm 2.000–3.000 đ/kg; mít Thái còn 28.000–30.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; chuối già Nam Mỹ phổ biến 14.000 15.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; dừa xiêm ở mức 10.000–10.500 đ/kg, giảm nhẹ 500 đ/kg. Giá cam sành giảm 5.000 đ/kg xuống còn khoảng 15.000–20.000 đ/kg. Trong khi đó, giá sầu riêng Ri6 dao động 106.000–110.000 đ/kg, tăng khoảng 2.000–3.000 đ/kg; sầu riêng Monthong ở mức 130.000–135.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg so với tháng trước.

Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ một số loại trái cây cũng giảm so với tháng 02/2026. Cụ thể, giá bưởi da xanh còn khoảng 39.000–40.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; mít Thái phổ biến 33.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; chuối còn 16.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; dừa xiêm khoảng 11.000 đ/kg, giảm 500 đ/kg. Ngược lại, giá sầu riêng Ri6 (loại 1) đạt khoảng 115.000–117.000 đ/kg, tăng nhẹ 2.000–3.000 đ/kg; sầu riêng Monthong khoảng 142.000 145.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg.

Tại Hà Nội, giá bán lẻ nhiều loại trái cây cũng giảm so với tháng 02/2026. Giá bưởi da xanh giảm 2.000 đ/kg, xuống còn 42.000 đ/kg; mít Thái giảm 2.000 đ/kg, còn khoảng 35.000 đ/kg; chuối giảm 1.000 đ/kg, xuống còn 17.000 đ/kg. Giá bơ booth giảm 2.000 đ/kg xuống còn 48.000 đ/kg. Giá cam sành giảm 5.000 đ/kg, phổ biến ở mức 20.000 25.000 đ/kg. Giá na giảm 2.000 đ/kg còn 53.000 đ/kg. Ngược xu hướng chung, giá sầu riêng Ri6 phổ biến 122.000–125.000 đ/kg, tăng nhẹ 2.000–3.000 đ/kg; sầu riêng Monthong dao động 148.000–150.000 đ/kg, tăng khoảng 2.000 đ/kg.

Dưới đây là diễn biến giá cụ thể của một số chủng loại trái cây tại các địa phương:

- Dừa Tháng 3/2026, giá dừa trên cả nước có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước, với mức giảm phổ biến từ 500–1.000 đ/kg. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung tại các vùng trồng trọng điểm như tỉnh Vĩnh Long (Bến Tre, Trà Vinh cũ) tiếp tục duy trì ổn định, trong khi nhu cầu tiêu thụ, đặc biệt là tiêu thụ nội địa, không có nhiều biến động sau kỳ nghỉ Tết. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá dừa xiêm dao động phổ biến ở mức 10.000 10.500 đ/kg, giảm khoảng 500 đ/kg so với tháng trước.

Tại các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ dừa xiêm phổ biến ở mức khoảng 11.000 đ/kg, giảm 500 đ/kg. Trong khi đó, tại Hà Nội, giá dừa xiêm duy trì quanh mức 12.000 đ/kg, giảm nhẹ so với tháng 02/2026. Tính đến đầu năm 2026, diện tích trồng dừa tại Việt Nam đạt gần 200.000 - 201.000 ha, đứng thứ 7 trên thế giới. Ngành dừa tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải miền Trung, với sản lượng khoảng 2 triệu tấn/năm. Vĩnh Long là một trong những địa phương trọng điểm về phát triển cây dừa tại Việt Nam. Đến nay, diện tích dừa của tỉnh đã đạt con số ấn tượng với hơn 122.800 ha, chiếm 61% tổng diện tích dừa cả nước. Trong đó, diện tích dừa cho trái trên 114.100 ha (tương đương khoảng 21,05 triệu cây dừa) chiếm trên 92% diện tích dừa của toàn tỉnh. Riêng diện tích dừa hữu cơ của tỉnh đạt chứng nhận là 30.708,3 ha. Theo kế hoạch năm 2026, tỉnh dự kiến phát triển thêm 13.369 ha. Luỹ kế cuối năm 2026 tỉnh có khoảng 44.077 ha/122.870 ha diện tích dừa hữu cơ, chiếm khoảng 35,9%. Hiện toàn tỉnh Vĩnh Long có khoảng 151 doanh nghiệp sản xuất chế biến các sản phẩm từ dừa, với nhiều loại hình, quy mô hoạt động khác nhau, gồm một số ngành chính: chế biến vỏ dừa (chỉ xơ dừa, mụn dừa, các sản phẩm sau chỉ), chế biến gáo dừa (than hoạt tính, than thiêu kết, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa), chế biến cơm dừa (sơ chế cơm dừa, cơm dừa nạo sấy, sữa dừa, bột sữa dừa, kẹo dừa, các loại mỹ phẩm từ dừa,....), chế biến nước dừa (nước dừa đóng hộp, thạch dừa...).

- Bưởi Giá bưởi trong tháng 3/2026 giảm 2.000–3.000 đ/kg so với tháng 02/2026 do nguồn cung tại các vùng trồng chính tăng, trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa cải thiện rõ rệt sau Tết. Tại ĐBSCL, giá bưởi da xanh dao động 34.000–36.000 đ/kg, giảm khoảng 2.000–3.000 đ/kg. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ phổ biến ở mức 39.000–40.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tại Hà Nội, giá bưởi da xanh khoảng 42.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg so với tháng trước.

- Cam Trong tháng 3/2026, tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giá thu mua cam giảm 2.000–3.000 đ/kg so với tháng trước đó nhờ nguồn cung dồi dào. Cụ thể, giá cam sành loại 1 bình quân ở mức 10.000-15.000 đ/kg; loại 2 ở mức 5.000 7.000 đg/kg. Còn tại các tỉnh phía Bắc, cam sành dao động từ 10.000 – 15.000 đ/kg, giảm 2.000 -5.000 đ/kg so với tháng trước.

- Mít Giá mít trong tháng 3/2026 giảm 2.000–3.000 đ/kg so với tháng 02/2026, chủ yếu do nguồn cung tại các tỉnh ĐBSCL tăng khi bước vào giai đoạn thu hoạch thuận lợi hơn, trong khi nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu chưa có nhiều biến động. Tại ĐBSCL, giá mít Thái thu mua tại vườn dao động 28.000–30.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ phổ biến ở mức 33.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tại Hà Nội, giá mít Thái khoảng 22.000-35.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg so với tháng trước.

- Dưa hấu Tháng 3/2026, giá dưa hấu trên cả nước giảm mạnh so với tháng trước, đặc biệt tại các vùng sản xuất trọng điểm. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung tăng mạnh khi bước vào chính vụ thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu chưa phục hồi tương ứng. Tại các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, giá dưa hấu tại ruộng giảm sâu, chỉ còn khoảng 1.000–2.000 đ/kg, mức thấp kỷ lục. Tại khu vực ĐBSCL, giá dưa hấu dao động 5.000–8.000 đ/kg đối với hàng sỉ, trong khi giá bán lẻ tại các đô thị lớn ở mức 12.000–18.000 đ/kg, giảm 5.000-7.000 đ/kg so với tháng 02/2026.

- Chanh Trong tháng 3/2026, giá chanh tăng nhẹ khoảng 2.000 - 3.000 đ/kg so với tháng trước do nắng nóng gay gắt bắt đầu lan rộng tại miền Nam, đẩy nhu cầu tiêu thụ nước giải khát lên cao. Cụ thể: tại các tỉnh ĐBSCL, chanh không hạt dao động từ 22.000 – 25.000 đ/kg tùy loại, tăng 2.000 đ/kg; chanh giấy, chanh núm từ 15.000 – 18.000 đ/kg, tăng nhẹ khoảng 2.000 - 3.000 đ/kg so với tháng trước.

- Sầu riêng Giá sầu riêng tháng 3/2026 tiếp tục tăng nhẹ, khoảng 2.000–4.000 đ/kg so với tháng 02/2026, chủ yếu do nguồn cung trái vụ khan hiếm trong khi nhu cầu từ thị trường Trung Quốc tăng cao. Tại ĐBSCL, giá sầu riêng Ri6 dao động 106.000–110.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg so với tháng trước; sầu riêng Monthong phổ biến ở mức 130.000–135.000 đ/kg, tăng 2.000 3.000 đ/kg. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bán lẻ sầu riêng Ri6 (loại 1) ở mức 115.000–117.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg; sầu riêng Monthong đạt 142.000–145.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg. Tại Hà Nội, giá sầu riêng Ri6 phổ biến 122.000–125.000 đ/kg, tăng 2.000–3.000 đ/kg; sầu riêng Monthong dao động 148.000–150.000 đ/kg, tăng khoảng 2.000 đ/kg.

Thị trường rau củ

+ Tình hình sản xuất Quý I/2026, thời tiết thuận lợi cho trồng rau củ, đặc biệt tại các tỉnh phía Bắc với vụ đông xuân gieo trồng các loại như su hào, bắp cải, cà pháo, đậu bắp. Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích gieo trồng một số cây vụ đông xuân như đậu tương, rau các loại tăng so với cùng kỳ năm trước; diện tích bắp, lạc giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao. Cụ thể: cả nước gieo trồng được 312,8 nghìn ha bắp, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước; 43,0 nghìn ha khoai lang, tương đương so cùng kỳ năm trước; 9,5 nghìn ha đậu tương, tăng 5,6%; 89,6 nghìn ha lạc, giảm 1,3%; 527,9 nghìn ha rau các loại, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.

+ Diễn biến giá Trong quý đầu năm 2026, trùng với dịp Tết Nguyên đán nên giá rau củ trên cả nước tăng nhẹ theo quy luật thời điểm nhưng không tăng đột biến do nguồn cung được đảm bảo từ các chợ đầu mối và hệ thống phân phối. Bước sang tháng 3/2026, sau cao điểm tiêu dùng dịp Tết, giá rau củ giảm so với tháng 02/2026. Nguyên nhân là do thời tiết ấm áp, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, giúp nguồn cung dồi dào.

Cụ thể: Tại Hà Nội, giá rau xanh giảm so với tháng trước: rau muống 8.000 đ/mớ, giảm 2.000 đ/mớ; bắp cải 9.000 đ/kg, giảm 3.000 đ/kg; rau ngót 10.000 đ/mớ, giảm 2.000 đ/mớ; mồng tơi 7.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; cải ngọt 12.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; cải thảo 12.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; cà chua 10.000 đ/kg, giảm 5.000 đ/kg; cải chíp 10.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; cải thìa 12.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cải xanh 10.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; bí xanh 18.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tại các chợ Phú Thọ giá các loại rau giảm nhẹ: rau muống 6.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; bắp cải 6.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; rau ngót 6.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; rau mồng tơi 6.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; rau dền 7.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; rau cải các loại 10.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; bí xanh 14.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; bí đỏ 13.000đ đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cà chua 6.000 đ/kg, giảm 5.000 đ/kg; khoai tây 12.000đ đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tương tự, tại An Giang, giá rau củ giảm nhẹ so với tháng trước: cải xanh 8.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cải thìa 12.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; bắp cải 9.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; khoai tây 13.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cải ngọt 12.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; rau muống 12.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cà chua 7.000 đ/kg, giảm 3.000 đ/kg; xà lách 13.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg. Tại Tp HCM giá rau giảm nhẹ so với tháng trước: đậu cô ve 25.000 đ/kg, giảm 5.000 đ/kg; cà chua Đà Lạt 25.000 đ/kg, giảm 5.000 đ/kg; cải bó xôi 18.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; hành lá 25.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; cải xanh 15.000 đ/kg, giảm 1.000 đ/kg; rau muống 12.000 đ/mớ, giảm 1.000 đ/mớ; bắp cải 9.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; bí xanh 18.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg; bí đỏ 15.000 đ/kg, giảm 2.000 đ/kg.

* Bưởi Việt Nam chính thức được bán tại Sydney

Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Úc, trải qua hơn 2 năm đàm phán, sáng sớm ngày 23/4/2026, đại diện Tổng Lãnh sự quán, Thương vụ Việt Nam tại Úc cùng các cơ quan báo chí đã có mặt tại khu chợ đầu mối lớn nhất của Sydney để chào đón những trái bưởi Việt Nam đầu tiên được bày bán. Sự kiện này niềm tự hào đối với nông sản của Việt Nam khi chinh phục thành công Úc - một trong những thị trường có tiêu chuẩn kiểm dịch và an ninh sinh học cao nhất trên thế giới. Ngay sau khi Chính phủ Úc công bố điều kiện nhập khẩu vào ngày 10/4/2026, những trái bưởi đầu tiên của Việt Nam đã nhanh chóng lên đường sang “xứ xở chuột túi”, mở ra những tiềm năng và cơ hội mới cho nông sản Việt Nam. Lô hàng hơn 900kg do công ty 4Ways Fresh nhập khẩu từ đối tác Blue Ocean qua đường hàng không đã tới Úc ngày 17/4 và trải qua quá trình kiểm tra nghiêm ngặt về kiểm dịch thực vật và an toàn sinh học tại cửa khẩu nhập cảnh trước khi được đưa tới Sydney Markets - chợ đầu mối lớn nhất của Sydney để phân phối tới các siêu thị bán lẻ. Đây là loại trái cây tươi thứ 6 của Việt Nam được mở cửa vào thị trường Úc, sau thanh long, xoài, vải, nhãn và chanh leo. Nhờ đặc tính vỏ dầy, dễ bảo quản, chất lượng ngon và nguồn cung ổn định quanh năm, bưởi Việt Nam hội tụ nhiều lợi thế cạnh tranh để có cơ hội khẳng định vị thế tại thị trường Úc. Tại Úc, bưởi cũng được trồng tại một số khu vực như Far North Queensland, vùng Murray Valley ở New South Wales và Victoria, vùng Riverland của Nam Úc và Lãnh thổ Bắc Úc, tuy nhiên quy mô nhỏ và sản lượng không lớn.

Năm 2023, Hiệp hội trái cây có múi của Úc (Cirtrus Australia) ước tính sản lượng bưởi đạt 1 nghìn tấn trên khoảng 38,5 ha vườn, đáp ứng khoảng 20% nhu cầu của thị trường nội địa. Mỗi năm Úc nhập khẩu gần 4 nghìn tấn bưởi từ các thị trường: Hoa Kỳ, Israel, Tây Ban Nha và New Zealand. Tuy nhiên, bưởi Hoa Kỳ, New Zealand thường có vị chua, ít ngọt và nguồn cung còn hạn chế, do đó sự ổn định về nguồn cung quanh năm và vị ngọt thanh, màu sắc đẹp mắt của bưởi Việt Nam sẽ là lợi thế lớn. Có thể nói, việc bưởi Việt Nam xuất khẩu được vào Úc cho thấy năng lực và cả các nỗ lực của các cơ quan quản lý và doanh nghiệp Việt Nam trong quản lý chất lượng để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất. Sự kiện không chỉ đánh dấu bưởi của Việt Nam chính thức bước chân vào thị trường được coi là khó tính như Úc, mà còn góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cho bưởi Việt Nam để giảm bớt sự phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Tuy nhiên, vào được thị trường đã khó, giữ được thị trường còn khó hơn. Doanh nghiệp cần tuyệt đối tuân thủ tính đồng nhất về chất lượng bởi chỉ cần một lô hàng không đạt chuẩn, uy tín của không chỉ doanh nghiệp mà cả ngành bưởi Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thương vụ Việt Nam tại Úc cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu, khẳng định vị thế “chất lượng cao” cho trái bưởi Việt Nam tại thị trường Úc.

Nguồn: Ban Biên tập Bản tin Thị trường tổng hợp

Các thông tin khác:
Hiển thị kết quả 1-20 (của 200)
Trang:1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối
  Giỏ hàng